Các giải pháp nâng cao khả năng thích ứng với Biến đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiệp cho nông dân Bến Tre giai đoạn 2019-2024 và tầm nhìn đến năm 2030

Trong khuôn khổ đề tài khoa học cấp tỉnh “Đánh giá kỹ năng thích ứng biến đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiệp của người dân tỉnh Bến Tre” theo Quyết định số 836/QĐ-UBND ngày 26 tháng 4 năm 2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre; Ngày 29 tháng 6 năm 2020 Sở Khoa học và Công nghệ Bến Tre đã phối hợp với Trường KHXH&NV Tp. Hồ Chí Minh tổ chức Hội thảo chủ đề: Giải pháp nâng cao kỹ năng thích ứng với BĐKH trong sản xuất nông nghiệp cho nông dân Bến Tre giai đoạn 2019 – 2024 tầm nhìn 2030. Tham dự Hội thảo có gàn 100 đại biểu là diện lãnh đạo các sở, ngành đoàn thể, các dự án về BĐKH của tỉnh, huyện, Tp Bến Tre, phân hiệu ĐHQG Tp. Hồ Chí Minh tại Bến Tre, các trường CĐ, Trung tâm Giáo dục thường xuyên – dạy nghề trong tỉnh…

Phát biểu khai mạc Hội thảo TS Huỳnh Văn Chẩn, trưởng khoa Công tác Xã hội, Trường KHXH&NV Tp. Hồ Chí Minh, Chủ nhiệm đề tài cho biết, tuy đề tài này thuộc lĩnh vực Khoa học nông nghiệp, tập trung nghiên cứu đánh giá kỹ năng thích ứng BĐKH trong sản xuất nông nghiệp (SXNN) của người dân Bến Tre, nhưng qua khảo sát và đánh giá thực trạng ảnh hưởng của BĐKH đến SXNN tại tỉnh Bến Tre, xác định các yếu tố ảnh hưởng của BĐKH đến kỹ năng thích ứng của nông dân trong SXNN tại Bến Tre nhóm nghiên cứu đã phát hiện, tiếp cận và quan tâm nghiên cứu các hệ lụy từ BĐKH đến các vấn đề xã hội như hôn nhân gia đình, vấn đề di  dân, vấn đề giới… do đó trong phần đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao kỹ năng thích ứng của nông dân với BĐKH trong SXNN tại Bến Tre và kiểm chứng các giải pháp này nhóm thực hiện đã quan tâm, lắng nghe để cập nhật sát tình hình và có những nghiên cứu mà các đề tài về BĐKH trước đây chưa đề cập. Do đó Hội thảo về Giải pháp nâng cao kỹ năng thích ứng với BĐKH trong SXNN cho nông dân Bến Tre giai đoạn 2019 – 2024 tầm nhìn 2030” đã nhận được sự quan tâm đóng góp , chia sẻ kết quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, nhà quản lý ở Tp Hồ Chí Minh, Bến Tre…

Tại Hội thảo, đại biểu tham dự đã nghe trình bày 5 bài nghiên cứu gồm:  Những kỹ năng ứng phó với biến đổi khí hậu trong tình hình hiện nay do TS. Nguyễn Thị Quốc Minh, Trường ĐH KHXH&NV Tp. Hồ Chí Minh báo cáo; Tác động BĐKH và giải pháp thích ứng do ThS. Võ Văn Ngoan, Sở TNMT tỉnh Bến Tre báo cáo; Thích ứng với BĐKH trong lĩnh vực nông nghiệp tỉnh Bến Tre do KS. Nguyễn Văn Nghiệp, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bến Tre báo cáo; Cách thức ứng phó với hạn mặn của người nông dân Bến Tre trong năm 2020 do TS. Ngô Văn Thạo, Trường ĐH Công nghiệp thực phẩm Tp. Hồ Chí Minh báo cáo và bài nghiên cứu Giải pháp nâng cao kỹ năng thích ứng của nông dân Bến Tre từ mô hình lọc nước bằng phương pháp màng sinh học trong điều kiện biến đổi khí hậu do Ths. Phạm Văn Luân, Trường Cao đẳng Bến Tre báo cáo. Trong phần thảo luận, các đại biểu đã đặt nhiều vấn đề liên quan đến báo cáo của các diễn giả tại Hội thảo.

Theo ông Lê Huy Phục, P.Chủ tịch Liên hiệp Các hội KHKT Bến Tre việc nâng cao kỹ năng thích ứng với BĐKH cho nông dân Bến Tre là rất cần thiết, nên vấn đề đặt ra của Đề tài cũng như của Hội thảo Giải pháp nâng cao kỹ năng thích ứng với BĐKH trong SXNN cho nông dân Bến Tre giai đoạn 2019 – 2024 tầm nhìn 2030” là rất phù hợp. Bên cạnh các nội dung nghiên cứu lâu nay đã có rất cần quan tâm đến những tác động về mặt xã hội với những vấn đề nổi cộm không chỉ tại Bến Tre mà cả nơi khác, như chuyện dân Bến Tre đến An Giang mua đất canh tác ngày càng nhiều do những khó khăn và rủi ro khi làm ăn tại quê nhà, Tỉnh An Giang đã đề xuất nghiệm vụ nghiên cứu để hướng dẫn người Bến Tre đến An Giang mua đất canh tác có phương án thực hiện cây trồng, vật nuôi đúng quy hoạch, đảm bảo sản xuất hiệu quả và bền vững, tránh những thiệt hại như đã xảy ra ở quê nhà, hay vấn đề về giới… Từ cách tiếp cận rất thực tế này của An Giang đã đặt ra cho Bến Tre nhiều suy nghĩ về định hướng phát triển, sản xuất nông nghiệp tại chỗ như thế nào cho thích ứng.

Theo Ths. Phạm Văn Luân, Trường Cao đẳng Bến Tre, nâng cao kỹ năng thích ứng BĐKH cho nông dân Bến Tre là việc hết sức quan trọng trong bối cảnh hiện nay, bởi theo dự báo của các chuyên gia về môi trường cũng như những dấu hiệu của BĐKH trong những năm gần đây cho thấy ảnh hưởng của BĐKH ở Bến Tre có xu hướng ngày càng gay gắt hơn. Trong đó, nông nghiệp, nông dân Bến Tre là một trong những thành phần lớn nhất và chịu ảnh hưởng nặng nề nhất. Đặc biệt, vấn đề an ninh, an toàn nguồn tài nguyên nước, nhất là xâm nhập mặn và hạn hán là 2 vấn đề nổi cộm, bức xúc nhất. Thời gian qua đã có nhiều giải pháp với những mô hình mới, cách làm hay được triển khai giúp nông dân có thể thích ứng với những thay đổi về khí hậu, ứng phó với thiên tai ngày một gia tăng và khó lường.

Tuy nhiên, để các giải pháp này thật sự phát huy tác động, cần có phương án giúp nông dân có được kỹ năng nhận diện sâu hơn về đối tượng cũng như xu hướng của BÐKH từ những mô hình cụ thể, lấy yêu cầu đảm bảo tính bền vững của sản xuất nông nghiệp trước tác động của BÐKH, xâm nhập mặn, nước biển dâng là cơ sở để đánh giá hiệu quả kỹ năng thích ứng của nông dân trong điều kiện BĐKH, góp phần giảm thiểu tác động xấu của BĐKH đến khu vực nông nghiệp, nông thôn và nông dân vốn là những đối tượng dễ bị tổn thương đầu tiên từ những thách thức của BĐKH gần đây có xu hướng ngày càng cực đoan. Tại Hội thảo, Ths. Luân đã giới thiệu “Mô hình lọc nước bằng phương pháp màng sinh học quy mô hộ gia đình nông thôn” được thực hiện giai đoạn 1 vào năm học 2013-2014 nghiên cứu trong phòng thí nghiệm; giai đoạn 2 trong năm học 2014-2015 xây dựng mô hình trình diễn tại Tp Bến Tre và giai đoạn 3 từ năm học 2016-2017 đến 2017 – 2018 chuyển giao mô hình về phục vụ cho hộ nông dân ở các xã Tam Hiệp, huyện Bình Đại, xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày Nam.  Quá trình chuyển giao tại cồn Tàu, xã Tam Hiệp, mô hình được triển khai trong khuôn khổ các sáng kiến cộng đồng được sự tài trợ của Mạng lưới sông ngòi Việt Nam (VRN) năm 2018 với tên gọi Phát huy nhân tố Giới trong bảo vệ nguồn nước hạ lưu sông MeKong từ mô hình lọc nước bằng phương pháp màng sinh học kết hợp năng lượng mặt trời và trồng cây Chùm ngây ven sông, kênh rạch ở Cồn Tàu, xã Tam Hiệp, huyện Bình Đại, Bến Tre (Developing gender factors in protection the water in downstream of Mekong river by bio-film filtration set up with solar energy panel combination with growing moringa trees).

Hội thảo đã đặt biệt quan tâm đến cách tiếp cận của dự án này bởi nhóm thực hiện đã dùng mô hình lọc nước bằng phương pháp màng sinh học cung cấp nước sạch, trồng cây Chùm ngây bảo vệ bờ sông, kênh rạch tạo ra 1 tâm điểm truyền thông phát huy vai trò Giới trong bảo vệ sông ngòi qua 1 dự án cụ thể, thiết thực hướng đến đổi mới, sáng tạo, thu hút sự tham gia của người dân, nhất là phụ nữ và trẻ em gái, nhóm thanh niên vùng dễ bị tổn thương do tác động của thiếu nước sạch. Dự án tiếp cận theo phương châm “kép” vừa truyền thông chuyển đổi hành vi, phát huy nhân tố Giới, vừa xây dựng các thiết chế hướng đến mô hình sinh kế cho phụ nữ và trẻ em gái: dịch vụ cung cấp nước sạch, giải quyết ô nhiễm môi trường nông thôn và trồng cây Chùm ngây, 1 loại cây mới có giá trị kinh tế chưa được phổ biến ở Cồn Tàu – cồn đất nằm trên 1 nhánh lớn nhất của sông Mekong khi chảy qua Bến Tre thuộc xã Tam Hiệp, huyện Bình Đại. Đây là dự án đã thực hiện thành công và có tiềm năng nhân rộng theo kênh sáng tạo khởi nghiệp và định hướng phát triển theo mô hình  doanh nghiệp xã hội công ích, tạo việc làm và cải thiện thu nhập cho phụ nữ nông thôn…các nhóm đối tượng tham gia dự án có nhiều cơ hội duy trì dự án thông qua các mô hình nhân rộng sau khi dự án kết thúc gắn với nông nghiệp sạch, năng lượng sạch, du lịch cộng đồng…

Đặc biệt, mô hình này đã đưa ra cách thức hướng dẫn người dân nông thôn cách tiếp cận, quan tâm tạo ra và bảo quản, sử dụng tiết kiệm nguồn nước mặt và thực hành ý thức vệ sinh cộng đồng, bảo vệ nguồn tài nguyên lưu vực sông MeKong qua nguồn nước sử dụng hàng ngày bằng những hành động thực tế với cách tiếp cận, khai thác tri thức bản địa liên quan đến nước: sử dụng nước mưa; dành ao hồ chứa nước thô, trồng mái dầm, thả lục bình đúng phương pháp để hạn chế rác, cặn, hạn chế sử dụng hóa chất trong canh tác nông nghiệp gây ô nhiễm nguồn nước ở các kênh, mương dẫn nước vào mương, hồ chưa nước thô phục vụ mô hình. TS. Nguyễn Thị Quốc Minh, Trường ĐH KHXH&NV Tp. Hồ Chí Minh đánh giá cao mô hình này và cho rằng từ mô hình đã gợi mở ra nhiều vấn đề bổ ích trong quá trình nâng cao kỹ năng thích ứng BĐKH cho nông dân.

Tổng kết Hội thảo, TS Huỳnh Văn Chẩn, Chủ nhiệm đề tài đã ghi nhận và đánh giá cao các ý kiến thảo luận của đại biểu tại Hội thảo, đặc biệt là mô hình lọc nước sinh học do VRN tài trợ, Nhóm đề tài sẽ tiếp tục trao đổi với các tác giả, đại biểu dự Hội thảo để tiếp thu, vận dụng vào quá trình đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao kỹ năng thích ứng của nông dân Bến Tre với BĐKH trong SXNN, góp phần cùng các ngành hữu quan và bà con nông dân Bến Tre có thể thích ứng một cách hiệu quả với BĐKH trong quá trình xây dựng và phát triển Bến Tre ngày càng giàu đẹp, văn minh vững bước trên đường hội nhập.

Kim Thư

Nhóm Sáng tạo trẻ Bến Tre

Liên quan đến bài viết

Bình luận

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *