Chuyển đổi sản xuất để ứng phó hạn, mặn

Mặc dù chuyển đổi sản xuất ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long đã và đang mang lại những kết quả tích cực, nhưng vẫn mang tính nhỏ lẻ, tự phát, khó nhân rộng. Do vậy, để sống chung với hạn, mặn, khu vực này cần quy hoạch chuyển đổi theo vùng sản xuất tập trung với những cây trồng có lợi thế, giá trị kinh tế cao, đồng thời cần liên kết sản xuất, bảo đảm đầu ra cho sản phẩm, tránh tình trạng nhiều địa phương cùng sản xuất một loại nông sản, dẫn đến cung vượt cầu.

Còn nhiều thách thức

Vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là nơi sinh sống của gần 20 triệu dân, với hơn bốn triệu ha đất trồng lúa, chiếm hơn 54% diện tích trồng lúa cả nước, là trung tâm sản xuất nông nghiệp lớn nhất của nước ta. Khu vực này đóng góp 50% sản lượng lúa, 65% sản lượng thủy sản nuôi trồng và 70% các loại trái cây của cả nước; 95% lượng gạo xuất khẩu và 60% sản lượng thủy sản xuất khẩu. Nhằm tạo động lực phát triển sản xuất cho vùng ĐBSCL, ngày 17-11-2017, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 120/NQ-CP về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu. Đây là Nghị quyết rất quan trọng cho phát triển kinh tế – xã hội trong điều kiện biến đổi khí hậu, trong đó có nông nghiệp, nông thôn, nông dân vùng ĐBSCL. Sau một thời gian thực hiện Nghị quyết đã tạo động lực phát triển sản xuất nông nghiệp cho vùng ĐBSCL, trong đó tổng diện tích cây ăn quả toàn khu vực đạt khoảng 335,4 nghìn ha, chiếm 36,3% diện tích cả nước. Trong đó, tập trung vào các loại cây ăn quả như thanh long, xoài, cam, bưởi, chôm chôm, nhãn, sầu riêng, dứa… Hiện tại, nhiều giống cây ăn quả cho năng suất, chất lượng cao, thích ứng với điều kiện vùng đã được đưa vào sản xuất, giúp nâng cao giá trị và kim ngạch xuất khẩu. Bên cạnh đó, toàn vùng diện tích nuôi cá tra đạt khoảng 5.200 ha, sản lượng nuôi 1,2 triệu tấn; diện tích nuôi tôm nước lợ trong khu vực khoảng 669 nghìn ha, chiếm 92,9% diện tích nuôi tôm nước lợ cả nước…

Có thể nói, những năm qua, ngành nông nghiệp ĐBSCL phát triển mạnh mẽ và đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần phát triển kinh tế và xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội. Tuy nhiên, theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN & PTNT), hiện nay quá trình chuyển dịch cơ cấu và đổi mới tổ chức sản xuất ở ĐBSCL còn chậm; các mô hình sản xuất theo chuỗi giá trị, ứng dụng công nghệ cao, công nghệ tiên tiến vào sản xuất, chế biến, bảo quản chưa nhiều cho nên chưa tạo được đột phá để nâng cao giá trị gia tăng, sức cạnh tranh. Đồng thời, năng lực thích ứng biến đổi khí hậu và ứng phó với thiên tai của vùng chưa được cải thiện nhiều khi các mô hình thích ứng còn mang tính tự phát, nhỏ lẻ, chưa có đủ cơ sở về kỹ thuật và thị trường cũng như động lực và hỗ trợ đủ mạnh để nhân rộng.

Trong thời gian tới, ĐBSCL có nguy cơ tiếp tục phải đối diện với nhiều thách thức lớn từ biến đổi khí hậu, sụt lún đất, mực nước ngầm suy giảm, hạn hán, xâm nhập mặn gia tăng. Tại tỉnh Sóc Trăng hiện có hơn 32.000 ha diện tích trồng cây ăn trái như: bưởi, vú sữa, cam, quýt, xoài, nhãn, măng cụt, chôm chôm, sầu riêng… Nhưng vùng quy hoạch trồng cây ăn quả của tỉnh là vùng hở do hệ thống các cống dọc sông Hậu chưa được đầu tư khép kín, người dân ngăn mặn chủ yếu bằng hệ thống các bọng nhỏ tự có. Vì vậy, nước mặn xâm nhập sâu và kéo dài đã ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất vùng này. Trong đó, mùa khô năm 2019 – 2020, tại hai xã An Lạc Tây và Kế Thành (huyện Kế Sách), một số diện tích trồng sầu riêng đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng do hạn, mặn. Giám đốc Sở NN & PTNT tỉnh Đồng Tháp Nguyễn Phước Thiện cho biết, khó khăn lớn nhất hiện nay đối với việc chuyển đổi từ lúa sang rau màu là vấn đề tiêu thụ sản phẩm khi giá cả bấp bênh, ít có liên kết tiêu thụ và không bền vững, dẫn đến hiệu quả chưa cao. Ngoài ra, cơ sở hạ tầng thủy lợi, giao thông nội đồng vùng chuyển đổi chưa được đầu tư hoặc không phù hợp cho sản xuất rau màu, cây ăn trái. Bên cạnh đó, công nghệ bảo quản sau thu hoạch, chế biến còn hạn chế khiến giá trị nông sản chưa cao.

Sống chung với hạn, mặn

Theo Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Lê Quốc Doanh, hiện nay các địa phương vùng ĐBSCL đang tích cực chuyển đổi những diện tích lúa bị ảnh hưởng do hạn, mặn. Trong đó, hàng trăm nghìn héc-ta đã được chuyển đổi sang mô hình thủy sản, mô hình tôm-lúa đã phát huy hiệu quả khá rõ nét. Cùng với đó, nhiều mô hình chuyển đổi sang trồng cây ăn quả cũng đạt hiệu quả kinh tế cao. Ngoài ra, trong sản xuất lúa, trước đây ở khu vực này, giống lúa thơm, chất lượng cao chỉ chiếm 30 đến 35% diện tích nhưng nay đã chiếm đến 80%, có nơi lên đến 90%, giúp nâng cao giá trị cho sản phẩm. Trong quá trình chuyển đổi, Bộ NN & PTNT luôn đề nghị các địa phương có những giải pháp chuyển đổi phù hợp trên từng vùng đất khác nhau (như thổ nhưỡng, nguồn nước…) và phải gắn với nhu cầu thị trường. Đặc biệt, Bộ cũng đề nghị các địa phương không chuyển đổi theo phong trào, chuyển đổi ồ ạt sang một loại cây trồng để tránh xảy ra tình trạng cung vượt cầu, khiến giá sản phẩm xuống thấp.

Giám đốc Sở NN & PTNT tỉnh Đồng Tháp Nguyễn Phước Thiện đánh giá, hiện nay việc chuyển sang luân canh cây trồng với các loại rau màu trên đất lúa, nhất là trồng vừng đang giúp bà con giảm được chi phí tưới nước và thích ứng với hạn hán đang diễn biến phức tạp. Mặt khác, cách làm này sẽ giúp “cắt đứt” các mầm bệnh trên đồng ruộng và cải tạo đất, giúp những vụ sản xuất lúa sau được mùa, hiệu quả kinh tế cao hơn. Còn về lâu dài, tỉnh sẽ tiếp tục vận động nhân dân thay đổi cơ cấu cây trồng tại các khu vực hằng năm thiếu nước tưới. Trong đó, chú trọng chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với điều kiện thực tế; khuyến khích sử dụng các giống cây trồng thích ứng với hạn hán và áp dụng các giải pháp tưới tiên tiến, tiết kiệm cho cây trồng cạn.

Hiện nay, ngành nông nghiệp các địa phương vùng ĐBSCL đang khuyến khích nhân dân sản xuất theo mô hình tưới nước tiết kiệm. Đây được coi là một trong những giải pháp khả thi nhằm sử dụng nguồn nước tưới hợp lý và hiệu quả trước ảnh hưởng của khô hạn và xâm nhập mặn. Vụ đông xuân 2019-2020, nông dân tỉnh Long An chuyển đổi được khoảng 8.466 ha đất lúa và mía sang các loại cây trồng ít sử dụng nước tưới, trong đó cây vừng 2.500 ha, dưa hấu 1.843 ha, sắn 1.050 ha, ngô 339 ha, chanh 940 ha, mít 519 ha, thanh long 321 ha, dừa 231 ha… Tỉnh đang tiếp tục vận động người dân chuyển đổi sản xuất sang cây trồng tiết kiệm nước, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật để giảm nước tưới.

Vừa bật hệ thống tưới phun nước thông minh tự động cho ruộng ớt của gia đình, ông Nguyễn Văn Chum, ở ấp Tân Thạnh, xã Tân Long, huyện Thanh Bình (Đồng Tháp) ngồi trò chuyện với chúng tôi. Ông chia sẻ: “Nhiều vụ qua, ớt luôn cho thu nhập ổn định. Từ khi chuyển sang trồng ớt, trừ chi phí, hai công ớt của gia đình thu về hơn 50 triệu đồng một vụ, có năm giá ớt cao được đến 70 triệu đồng, lợi nhuận thu về gấp nhiều lần so với trồng lúa. Nhờ đó mà cuộc sống gia đình tôi không còn khó khăn như trước”.

Chủ tịch UBND huyện Châu Thành (Long An) Nguyễn Văn Thình cho biết, để ứng phó với hạn, mặn năm 2020, huyện đã xây dựng mô hình tưới nước tiết kiệm trên diện tích 2.084 ha trồng thanh long ứng dụng công nghệ cao. Đến nay, toàn huyện đã xây dựng được 303 mô hình ứng dụng công nghệ cao có áp dụng hệ thống tưới tiên tiến với diện tích 351 ha. Điều đáng nói, tất cả các mô hình tưới tiết kiệm nước giúp nhà vườn trồng thanh long giảm 70 đến 80% chi phí công lao động, tiết kiệm 30 đến 40% lượng phân bón, điện và thời gian chăm sóc. Nếu tưới theo cách thông thường, người nông dân tốn tiền công tưới nước, phân bón và điện năng tiêu thụ… hơn 36,3 triệu đồng/ha/năm. Còn khi nhà vườn áp dụng hệ thống tưới tự động hai trong một bằng cách tưới nước gốc, tưới phân, chỉ tốn gần 10 triệu đồng/ha/năm và còn tiết kiệm được nước trong điều kiện hạn, mặn. Hiện nay, huyện Châu Thành đang khuyến cáo các nhà vườn nên ứng dụng hệ thống tưới nước tiên tiến cho cây thanh long trên diện rộng nhằm tiết kiệm chi phí, nguồn nước, công chăm sóc, góp phần tăng lợi nhuận trong sản xuất.

Mặt khác, để giúp vùng ĐBSCL phát triển nông nghiệp bền vững thích ứng biến đổi khí hậu, các địa phương cần có giải pháp thực hiện cụ thể, đồng bộ; đầu tư phát triển hạ tầng, đặc biệt là mạng lưới giao thông nhằm giảm chi phí, tạo thuận lợi cho việc tổ chức sản xuất, vận chuyển, lưu thông hàng hóa và đẩy mạnh xuất khẩu. Đồng thời phát triển kinh tế tập thể và tăng cường liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản; ứng dụng khoa học – công nghệ vào sản xuất, chế biến để tăng năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng cho nông sản.

Hùng Phong và Nghĩa Phong

Theo nhandan.com.vn

Liên quan đến bài viết

Bình luận

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *