Luật Thủy lợi và một số bất cập

Luật thủy lợi sửa đổi được ban hành vào ngày 19, tháng 6 năm 2017 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày mồng 1, tháng 7, năm 2018. Vào cuối tháng 9, đầu tháng 10 năm 2018,  Trung tâm Bảo tồn và Phát triển Tài nguyên nước cùng với Trung tâm tư vấn phát triển bền vững tài nguyên nước và thích nghi biến đổi khí hậu đã tiến hành khảo sát và nghiên cứu về  những khó khăn bất cập khi thi hành luật thủy lợi sửa đổi tại các địa phương. Phạm vi nghiên cứu được thực hiện tại 4 tỉnh miền Bắc là Tuyên Quang, Hải Dương, Thanh Hóa và Nam Định. Đoàn chuyên gia đến từ Trung tâm tư vấn phát triển bền vững tài nguyên nước và thích nghi biến đổi khí hậu đã thực hiện các cuộc tham vấn tại các chi cục thủy lợi tại các địa phương được khảo sát. Ngoài ra nhóm chuyên gia còn có các buổi làm việc với công ty TNHH Một thành viên khai thác công trình thủy lợi Bắc Hưng HẢi,, Bắc Nam Hà và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên sông Chu. Nội dung tham vấn liên quan đến việc thực thi các nghị đinh hướng dẫn dưới Luật mới được ban hành trong tháng 5/2018.

Nghị định 67 yêu cầu về năng lực tối thiểu đối với tổ chức, cá nhân khai thác công trình thủy lợi như đập hồ, chứa nước, trạm bơm điện. Trong nghị định 67 có quy định rằng  Hồ chứa có dung tích trữ từ 50.000.000 m3 trở lên, phải có 05 kỹ sư chuyên ngành thủy lợi, trong đó có ít nhất 02 người có thâm niên quản lý, vận hành đập, hồ chứa nước từ 05 năm trở lên, có giấy chứng nhận qua lớp đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ về quản lý đập hay trạm bơm có từ 09 máy trở lên, bố trí 03 kỹ sư chuyên ngành thủy lợi, 01 kỹ sư cơ điện, 10 trung cấp cơ điện hoặc thủy lợi có thâm niên quản lý, vận hành từ 05 năm trở lên. Nếu làm theo quy định trong nghị định 67 thì sẽ gây lãng phí nguồn nhân lực lớn, lãng phí chi phí, kinh phí quản lý và chi trả lương cho kỹ sư, công nhân viên chức.

Nghị định 77 nêu rõ các quy định về hỗ trợ phát triển thủy lợi nhỏ, thủy lợi nội đồng, và tưới tiên tiến, tiết kiệm nước. Dưới đây là hình ảnh thủy lợi nội đồng tại địa bàn tỉnh Hải Dương. Thủy lợi nội đồng có tác dụng cung cấp nước tưới tiêu và thoát nước tránh gây ngập úng cục bộ, ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng cây trồng.Trong nghị định 77 có một mục nói rõ về các hỗ trợ dành cho tưới tiết kiệm, như là nhà nước sẽ hỗ trợ 50% chi phí vật liệu, máy thi công, thiết bị để xây dựng. Tưới tiết kiệm, tưới tiên tiến mang lại nhiều lợi ích lâu dài về năng suất, chất lượng cây trồng. Tuy nhiên ở nhiều địa phương rất ít nơi áp dụng hoặc không áp dụng mô hình này. Các lý do gây trở ngại cho việc  người dân tiếp cận mô hình này là: thiếu thông tin, thiếu kiến thức, không đủ trang thiết bị để thực hiện, và quan trọng nhất là khồng đủ kinh phí triển khai.

Nghị định 96 quy định về giá sản phẩm, dịch vụ thủy lợi và hỗ trợ tiền sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi. Trong đó ghi rõ: Tiêu, thoát nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, khu vực nông thôn và đô thị trừ vùng nội thị” mức giá tối đa không quá 5% mức giá sản phẩm, dịch vụ thủy lợi của tưới đối với đất trồng lúa/vụ.Tuy nhiên, chủ thể tham gia ký kết hợp đồng, thanh lý hợp đồng đối với bên sử dụng sản phẩm dịch vụ công ích thủy lợi lại không được đề cập đến trong Luật Thủy lợi và các Nghị định. Các chủ thể này có thể là UBND cấp huyện, cấp tỉnh hoặc chính là các sở ban ngành.Thời gian áp dụng thực hiện giá sản phẩm, dịch vụ thủy lợi theo Nghị định số 96/2018/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2018. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có hướng dẫn cụ thể, nên việc triển khai còn gặp nhiều khó khăn.  Quy trình xây dựng, duyệt giá thủy lợi còn phức tạp, mất nhiều thời gian, vì vậy  Bộ Tài chính, Bộ NN& PTNT xem xét trình Chính phủ điều chỉnh cho phù hợp,  nhằm đảm bảo tính khách quan, minh bạch và  dễ thực hiện, giám sát

Thông tư 05 (không năm) đề cập đến quy định về lập, ban hành và thực hiện quy trình vận hành công trình thủy lợi, cắm mốc chỉ giới phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi, quản lý khai thác công trình thủy lợi nhỏ, thủy lợi nội đồng. Việc cắm mốc chỉ giới thủy lợi tại các địa phương còn gặp nhiều khó khăn do thiếu kinh phí, chồng chéo trong thủ tục hành chính. Ngoài ra một vài hộ dân tại khu vực cắm mốc chỉ giới đã có quyền sử dụng đất nên gây khó khăn cho việc thực hiện.

Ngoài ra trong chuyến khảo sát tại các địa phương, một vài vấn đề liên quan các tác động tiêu cực đối với các công trình thủy lợi cũng được ghi nhận. Như ở Thanh Hóa, việc các chủ doanh nghiệp địa phương khai thác đá, và đổ bột đá xuống sông nhà Lê đã gây ách tắc, ngập úng khiến cho mùa mưa đến, nước không kịp tiêu, thoát, gây úng cục bộ. ảnh hưởng nặng nề đến vụ mùa. Hay như ở Nam Định, việc khu công nghiệp Mỹ Xá xả thải chưa qua xử lý xuống dưới nguồn nước cũng làm ảnh hưởng đến môi trường, và việc cấy hái, cũng như chăn nuôi của bà con. Việc nông dân còn sử dụng nhiều thuốc trừ sâu trong nông nghiệp, cũng gây tác động xấu đến các công trình thủy lợi, khi thuốc trừ sâu ngấm xuống đất hoặc bị rửa trôi theo dòng nước chảy vào các công trình thủy lợi nội đồng, lâu dài sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng.

Sau cùng để thực hiện triển khai Luật thủy lợi cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa các bộ ban ngành như Bộ NN&PTNT, Bộ Tài nguyên và môi trường, Bộ tài chính, Chính phủ cùng với các chi cục thủy lợi địa phương, các ban ngành tại các tỉnh, các huyện. Và quan trọng nhất, thông tin này cần được minh bạch, và phổ biến rộng rãi đến cho người dân thì Luật thủy lợi mới có thể thực hiện đúng vai trò của nó.

Bình luận

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *